Thứ Hai, 2 tháng 5, 2016

Bài này tôi viết để đóng góp vào Đề án cải cách giáo dục Việt Nam do một số trí thức trong và ngoài nước thực hiện vào năm 2008. Toàn bộ nội dung của Đề án được đăng trên Thời đại mới số 13, tháng 3/2008.

gs-tran-van-tho-qua-nhieu-nhan-thuc-sai-lam-ve-bang-tien-si

GS Trần Văn Thọ.

Một số nhận thức sai lầm về bằng tiến sĩ:

1. Bằng tiến sĩ không phải nhằm đào tạo nhà quản lý hoặc lãnh đạo để cho phép nhà nước cấp kinh phí đi học tại chức lấy bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là bước cơ bản nhằm đào tạo đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học.

2. Nghiên cứu sinh không cần phải có ý kiến mới để được nhận vào chương trình tiến sĩ, nhưng nghiên cứu sinh phải có đủ trình độ để từ quá trình học, nắm được phát triển lý thuyết cơ bản và kiểm chứng lý thuyết bằng thực tiễn trong ngành trên thế giới, từ đó biết được vấn đề gì đã được nghiên cứu và cái gì chưa được giải đáp và từ đó có đóng góp mới về mặt học thuật.

3. Luận án tiến sĩ không nhằm nghiên cứu một vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển xã hội, kinh tế như làm sao thu hút đầu tư nước ngoài, hoặc làm sao một địa phương có thể trồng lúa ba vụ. Luận án tiến sĩ phải có tính học thuật (academic), triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả lý luận, kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Quan trọng nhất luận án phải có tính độc sáng (originality), đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới.

Từ những nhận định trên bài viết bàn về yêu cầu thẩm định lại trình độ của giáo sư hướng dẫn, và các trường, viện đào tạo hiện nay, chấm dứt ngay những cơ sở không có tư cách cấp bằng.

Một trong những căn bệnh trầm trọng mà chế độ giáo dục đào tạo của Việt Nam trong mấy mươi năm qua gây ra cho xã hội ta là làm lạm phát văn bằng tiến sĩ, là đưa chuẩn mực của học vị cao nhất trong khoa học này xuống mức thấp ngoài sự tưởng tượng của người làm khoa học nghiêm túc. Nhiều người, kể cả người viết bài nầy, đã cảnh báo, phê phán vấn đề này từ rất sớm và đã có nhiều đề nghị cải cách rất cụ thể và khả thi. Thế nhưng vấn đề này không được cấp lãnh đạo cao nhất quan tâm, còn các cơ quan quản lý trực tiếp, chủ yếu là Bộ Giáo dục và Đào tạo, thì hầu như bất lực.

Gần đây nhà nước có vẻ đã thấy không thể không hành động trước tình trạng đã quá trầm trọng. Cụ thể là vào tháng 1/2008 Bộ Giáo dục đã công bố bản Dự thảo quy chế đào tạo tiến sĩ (dưới đây gọi tắt là Dự thảo). Đây là lần đầu tiên vấn đề đào tạo tiến sĩ được đặt ra tương đối nghiêm túc. Tuy nhiên, nội dung Dự thảo có nhiều điểm không khả thi, và nhiều điểm cho thấy người đặt chính sách chưa hiểu đúng ý nghĩa của việc đào tạo bậc tiến sĩ và yêu cầu của luận án tiến sĩ.

Mặt khác, Dự thảo chủ yếu nói đến việc xây dựng quy chế cho những cơ sở đào tạo mới và không đề cập đến việc xử lý những văn bằng tiến sĩ sản sinh trong quá trình vàng thau lẫn lộn vừa qua, cũng như không nói rõ vấn đề cải tổ, thanh lọc những cơ sở đào tạo ra đời trong bối cảnh bê bối hàng chục năm qua. Vì đã có nhiều dịp phát biểu ý kiến về vấn đề đào tạo và cấp bằng tiến sĩ, dưới đây tôi chỉ nêu lại một số vấn đề xét thấy cần đặt lại hoặc viết thêm trong giai đoạn hiện nay:

Mục tiêu đào tạo tiến sĩ là gì?

Thế nào là một luận án tiến sĩ?

Tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn và cơ sở đào tạo tiến sĩ.

Việc đánh giá và cấp bằng tiến sĩ nên làm như thế nào?

Mục tiêu đào tạo tiến sĩ là gì?

Trong kế hoạch đào tạo 20.000 tiến sĩ (đến năm 2020), suy nghĩ của người làm kế hoạch khá đơn giản và không thực tế. Ngoài tính bất khả thi, ta thấy nhà nước có suy nghĩ rất đơn giản, để phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải có một đội ngũ những nhà khoa học, cụ thể là đội ngũ của những người có học vị tiến sĩ. Không biết từ bao giờ đã có một quan niệm sai lầm rằng bất cứ người làm trong ngành nào, kể cả quan chức và những nhà lãnh đạo doanh nghiệp, người có học vị càng cao càng “lãnh đạo” giỏi.

Do quan niệm sai lầm này, nhà nước đã cấp kinh phí cho quan chức đi học (làm nghiên cứu sinh) tại chức để lấy bằng tiến sĩ, và xem văn bằng này là một trong những tiêu chuẩn để đề bạt lên chức vụ cao hơn. Do vậy quan chức tranh nhau đi học để lấy bằng và nạn học giả lấy bằng thật trở thành phổ biến. Quan điểm và chính sách này đã làm lãng phí nguồn lực xã hội và gây ra nạn lạm phát văn bằng tiến sĩ. Quan niệm sai lầm và chính sách chạy theo số lượng trong khi các tiền đề xây dựng cơ sở đào tạo chưa được xác lập đã hạ thấp (một cách kinh khủng) chuẩn mực văn bằng tiến sĩ là hệ quả đương nhiên.

Do đó hơn bao giờ hết cần xác định mục tiêu đào tạo tiến sĩ. Đó là tạo ra một đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học có thể được thực hiện ở đại học hoặc các viện nghiên cứu của cơ quan nhà nước hoặc của doanh nghiệp (nhất là nghiên cứu ứng dụng), nhưng người thuần tuý quản lý doanh nhgiệp hoặc quản lý hành chánh không cần văn bằng tiến sĩ. Dĩ nhiên có trường hợp một số quan chức hoặc lãnh đạo doanh nghiệp có bằng tiến sĩ.

Đó là trường hợp những người nguyên đã có dự định theo con đường nghiên cứu hoặc giảng dạy ở đại học nhưng sau đó tìm thấy khả năng của mình ở lãnh vực quản lý doanh nghiệp hoặc nhà nước. Cũng có trường hợp họ không thành công trong dự định ban đầu. Ở Nhật hay ở Mỹ người có bằng tiến sĩ khó tìm việc ở cơ qụan hành chánh nhà nước hoặc doanh nghiiệp hơn là người chỉ có bằng đại học (dĩ nhiên trừ trường hợp xin vào các viện nghiên cứu của doanh nghiệp hoặc của nhà nước).

Thế nào là một luận án tiến sĩ?  

Mới đây Bộ trưởng Giáo dục tuyên bố một câu được báo chí nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Nếu không tìm được vấn đề gì mới thì đừng đi học tiến sĩ”. Tôi ghi nhận chủ ý tích cực của câu tuyên bố này. Bối cảnh của tuyên bố này là tình trạng có nhiều luận án tiến sĩ chỉ là sự sao chép hoặc tổng kết các nghiên cứu của người khác và cần phải chấm dứt tình trạng này. Nhưng câu tuyên bố này khó hiểu đối với người làm khoa học, nhất là đối với người phụ trách đào tạo tiến sĩ nghiêm túc.

Ta có thể đặt lại vài câu hỏi sau: Thứ nhất, một người định thi vào bậc tiến sĩ (thi làm nghiên cứu sinh) có cần phải có sẵn một đề tài mới? Hay là đề tài mới chỉ được phát hiện trong quá trình học tập vất vả, phải biết vấn đề gì đã được nghiên cứu và cái gì chưa được giải đáp? Thứ hai, thế nào là “mới”? Có thể là mới trong một thực tiễn nào đó nhưng chẳng có ý nghĩa gì đối với khoa học. Chẳng hạn, làm sao để huy động vốn trong dân ở tỉnh A hay tại một thành phố B có thể là mới vì chưa ai nghiên cứu vấn đề cụ thể này nhưng đề tài tự nó chưa nêu ra được điểm gì mới về học thuật. Cần nói thêm là các đề tài luận án tiến sĩ kinh tế trong hơn 10 năm qua ở Việt Nam phần lớn có tính cách thưc tiễn và thiếu tính học thuật như vậy. Tôi đã víết khá chi tiết về điểm này trên Tia sáng (9/2003). 

Vậy trình độ của người được cấp bằng và chuẩn mực khách quan của luận án tiến sĩ là gì? Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Người được cấp bằng tiến sĩ do đó phải am hiểu các lý luận cơ bản, các khung phân tích trong ngành mình và nắm vững các khái niệm, các khung phân tích, các lý luận và những tiến triển nghiên cứu mới trong ngành chuyên môn hẹp của mình. Những kiến thức cơ bản này được trang bị từ các cấp bậc đại học và thạc sĩ, nhưng ở bậc tiến sĩ phải được tiếp tục ở trình độ cao hơn và nhất là phải có cơ chế kiểm tra nghiêm túc để bảo đảm cho ứng cử viên học vị này hội đủ các điều kiện đó.

Trình độ của ứng cử viên tiến sĩ được thử thách và được nhân lên trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ. Ngoài tính khoa học, logic tất nhiên phải có, một luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất là tính học thuật (academic) trong đó vấn đề phải được triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả các lý luận, các kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Thứ hai là tính độc sáng (originality), luận án phải đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới. Cái “mới” trong khoa học là như vậy.

Cần nói thêm rằng đòi hỏi chính của luận án tiến sĩ là sự đóng góp về mặt lý luận và luận án là bằng chứng cho thấy ứng cử viên tiến sĩ có trình độ nghiên cứu độc lập, chứ không đòi hỏi phải giải quyết một vấn đề thực tế (dĩ nhiên nếu kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn thì càng tốt nhưng đó là thứ yếu). Sau khi lấy bằng tiến sĩ, tùy theo nhu cầu công tác lúc đó mới cần nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Tại Việt Nam, chí ít là trong lãnh vực kinh tế, hình như đa số hiểu sai về ý nghĩa của luận án tiến sĩ. Các đề tài của một luận án tiến sĩ kinh tế học ở Việt Nam thường là "Những giải pháp để…” (chẳng hạn, những giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chiến lược công nghiệp hoá). Những vấn đề này dĩ nhiên có thể được chọn là đối tượng nghiên cứu nhưng đó chỉ là trường hợp được chọn để kiểm chứng một vần đề có tính cách lý luận chứ không phải nhằm để giải quyết một vấn đề thực tế.

Ở Việt Nam, được biết nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ tốn hàng tỷ đồng và huy động hàng chục nhà nghiên cứu nhưng ít có công trình trực tiếp giải quyết vấn đề thực tiễn mà tại sao lại kỳ vọng ở công trình của một nghiên cứu sinh? Các đề tài này chẳng nêu ra được những câu hỏi có tính lý luận nên chẳng có giá trị về mặt học thuật, và về mặt thực tế cũng chẳng thấy cơ quan nào của nhà nước đã tham khảo các luận án ấy. Thật ra một người tốt nghiệp đại học thuộc loại giỏi chỉ cần vài tháng là có thể hoàn thành một bản báo cáo về những đề tài như vậy. Trong thời gian qua ở nước ta các bản báo cáo như vậy vẫn được gọi là luận án tiến sĩ. Chất lượng tiến sĩ ở Việt Nam quá thấp là vì vậy.

Cũng do quan niệm sai lầm ở Việt Nam về việc “ép” nghiên cứu sinh phải chọn một đề tài về mới về thực tiễn (dù không có giá trị về học thuật) mà trong quá khứ một số đề tài liên quan đến an ninh, quốc phòng, được phép bảo vệ không công khai. Bản Dự thảo nói trên cũng có quy định về những trường hợp không công khai việc bảo vệ luận án tiến sĩ.

Theo tôi, mọi luận án tiến sĩ đều phải được công khai. Nếu vì an ninh hoặc quốc phòng thì không cho nghiên cứu sinh chọn những đề tài như vậy. Như đã nói ở trên, mục tiêu đào tạo tiến sĩ là xây dựng những con người khoa học có trình độ nghiên cứu độc lập và đảm trách việc giáo dục đại học chứ không phải là nhằm nghiên cứu một vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển xã hội, kinh tế. Những đề tài thực tiễn và cấp thiết như vậy thì nên giao cho người đã có khả năng nghiên cứu độc lập, kể cả người đã lấy bằng tiến sĩ.

Ông Trần Văn Thọ sinh năm 1949 tại Quảng Nam, năm 1967 sang Nhật Bản du học. Ông lấy được bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Hitotsubashi, Tokyo. Ở lại Nhật, ông vào làm việc tại Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật Bản, sau đó làm phó giáo sư, rồi giáo sư Đại học Obirin, Tokyo. Từ năm 2000 đến nay, ông làm giáo sư kinh tế Đại học Waseda, Tokyo.

Năm 1990, báo chí Nhật đưa tin lần đầu tiên có ba người nước ngoài được mời làm thành viên chuyên môn trong Hội đồng tư vấn kinh tế của thủ tướng Nhật, ông Thọ là một trong ba người đó. Ông ở cương vị này trong gần 10 năm, qua nhiều đời thủ tướng Nhật.

GS Trần Văn Thọ
Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản

1) Bỏ vào 2 euro sẽ nhận được 3 USD và được tặng thêm 1 viên kẹo.

2) Bỏ vào 5 USD sẽ nhận được 3 euro và được tặng thêm 1 viên kẹo.

Khi Buratino đến nghịch máy đổi tiền, cậu ta chỉ có toàn USD. Khi cậu ta rời khỏi đó thì tiền đô bị hao hụt đi, không có thêm tiền euro nhưng có được 50 viên kẹo.

Hỏi Buratino đã tốn bao nhiêu USD để có được món quà 50 viên kẹo đó? 

TS Trần Nam Dũng
ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia TP HCM

Nhưng người nhà chỉ muốn em học Dược mai kia về mở hiệu thuốc trong khi điều kiện kinh tế gia đình em không có (để mở hiệu thuốc). Mọi người nói con gái nếu không học được Y thì phải học Dược, ai lại theo CNTT.

Dược thì phải học Hóa tốt mà em đuối Hóa lắm. Nếu theo Dược em không được học sâu về Lý, em rất tiếc. Xin mọi người tư vấn, em có nên theo Dược không?

Nguyễn Thị Giang

Độc giả đặt câu hỏi tư vấn tại đây

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

Tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Anh, Đại Học Mở TP HCM năm 2010, Ngô Thị Tuyết Mai hiện là giáo viên tiếng Anh cho một trường mầm non quốc tế ở thành phố Thanh Đảo, thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Đây là một chi nhánh của trường Mulberry Learning Center có địa chỉ tại Singapore. Mai được phân công công tác giảng dạy cho học sinh 3 tuổi lớp mầm (Nursery 1) trong vòng ba tháng.

Với mong ước trở thành giáo viên tiếng Anh cho trẻ em, Mai đã xin làm trợ giảng cho trường Trung học quốc tế Australia (VAS) tại TP HCM trước khi suy nghĩ về việc giảng dạy cho trẻ em tại nước ngoài. Cô chọn Singapore vì tin với ngành giáo dục phát triển của đất nước này, cô sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy thực tiễn và năng động.

Khó khăn phải trải qua

Trải lòng về quá trình tìm kiếm công việc tại nước ngoài, Mai nhớ lại ngày 30/5/2013, cô quyết định khăn gói lên đường sang Singapore với hy vọng hiện thực hóa ước mơ của mình. Sau khi xin được visa du lịch, cô ở lại Singapore trong 30 ngày. Thời hạn một tháng sắp trôi qua, nhưng cô vẫn chưa tìm được việc làm. Cô nhanh chóng quyết định mua vé xe buýt đến Kuala Lumpur, Malaysia và ở lại đó 2 ngày.

Sau đó, Mai quay lại Singapore ở hết tháng 6/2015. Cô vô cùng lo lắng cho sự mạo hiểm tìm việc ở nước ngoài bằng visa du lịch của mình. Mục tiêu di chuyển nhiều quốc gia của cô là để kéo dài thời gian ở nước ngoài và tìm kiếm công việc yêu thích. Cô gọi việc này là “run visa”. Cuối cùng may mắn cũng đến. Sau một thời gian chờ đợi, ngày 18/9/2015, cô được mời phỏng vấn tại trường Mulberry.

Sau khi vượt qua buổi demo bắt buộc, cô được nhận vào làm việc. Tuy nhiên, khó khăn trước mắt của Mai là không có những bằng cấp mà Bộ Giáo dục Singapore yêu cầu. Để có được hộ chiếu Singapore, Mai phải nộp các giấy tờ liên quan như bằng tốt nghiệp đại học, thư giới thiệu và bảng điểm thi IELTS. Sau đó, toàn bộ hồ sơ của cô được nộp lên Bộ Lao động Singapore.

hanh-trinh-tim-viec-o-nuoc-ngoai-cua-co-giao-nguoi-viet

Mai đang giảng dạy cho học sinh lớp mầm tại Singapore Ảnh: NVCC

Mai tâm sự, trong thời gian đầu sinh sống tại quốc đảo sư tử, mọi thứ thật sự khó khăn, đặc biệt là làm hài lòng phụ huynh. Khi phụ huynh biết Mai là người Việt Nam, họ tỏ vẻ không vui vì nghĩ một giáo viên người Việt Nam không đủ trình độ để dạy tiếng Anh cho con họ. Phụ huynh mong muốn con em mình được học tiếng Anh từ một giáo viên người Philippines hoặc người bản địa.

Nghĩ đến việc phụ huynh nghi ngờ trình độ ngoại ngữ của mình, Mai cảm thấy tủi thân khi bản thân là người Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài. Mai nói, cô thường bị hiệu trưởng bắt buộc làm việc quá giờ mà không thể nào từ chối. Áp lực, có lần cô hỏi trực tiếp hiệu trưởng để xin dừng làm việc thêm giờ cho nhà trường. Ngay lập tức sau đó, cô bị quát mắng: “Nếu cô không muốn làm việc ngoài giờ thì hãy ở nhà và đừng đến đây làm việc trong hai tuần tới”.

Đấy là lần đầu tiên mà Mai bị ức hiếp bởi một hiệu trưởng người nước ngoài. Cô thầm nghĩ có lẽ người ta chỉ ức hiếp người mới vào làm thôi. Một lần nọ, vị hiệu trưởng gọi cô vào phòng họp và nói rằng cô bị phụ huynh phàn nàn về khả năng tiếng Anh. Họ bảo tiếng Anh của cô không tốt. Tại sao nhà trường lại thuê cô dạy con em họ.

Trong khi đó, cô vượt qua cuộc thi IELTS với 7.0 và điểm 6.5 vòng phỏng vấn với vị sếp tổng. Cô được đánh giá cao về khả năng tiếng Anh và được mong đợi vào giảng dạy trong trường.

Mai nhận xét, thật ra người Singapore sử dụng tiếng Anh rất ngẫu hứng. Họ không theo cấu trúc ngữ pháp nào cụ thể, phát âm và ngữ điệu không tuân theo cái chuẩn như người Việt Nam học tiếng Anh. Hơn nữa, đa phần người Singapore có gốc từ người Hoa, nên họ sử dụng Singlish nhiều hơn là English. 

hanh-trinh-tim-viec-o-nuoc-ngoai-cua-co-giao-nguoi-viet-1

Mai trong một tiết dạy tại Trung Quốc Ảnh: NVCC

Tự tin vào chính mình

Dẫu chịu nhiều áp lực nơi xứ người, Mai luôn lạc quan khi nghĩ rằng đã xin được việc làm thì không dễ gì từ bỏ. Vì thế, cô cắn răng chịu đựng những nghi ngờ về năng lực và sự dè bỉu của giáo viên bản địa. Thời gian trôi qua, Mai đã có hai năm kinh nghiệm giảng dạy tại Singapore và tiếp tục ký hợp đồng lao động mới.

Trong năm 2016, Mulberry Learning Center mở thêm một chi nhánh giáo dục mới tại Trung Quốc. Cô được phân công giảng dạy ở đây. Khi được nhận nhiệm vụ mới, Mai vô cùng vui sướng. Cô kể, mình rất háo hức cho chuyến đi sắp đến để có thêm kinh nghiệm và cơ hội mài giũa tiếng Trung, ngôn ngữ thứ hai mà cô từng học bên cạnh tiếng Anh trong trường đại học tại Việt Nam.

Thời gian đầu tại Trung Quốc, cô không thể diễn tả được nội dung giảng dạy chuyên môn cho các giáo viên người Trung Quốc hiểu. Rất may, cô được sếp làm phiên dịch. Tuy vậy, một thời gian ngắn thích nghi với môi trường làm việc mới, cộng với sự nỗ lực không mệt mỏi, Mai có thể sử dụng được tiếng Trung trong giao tiếp và diễn đạt một số khía cạnh trong giảng dạy trước hiệu trưởng và đồng nghiệp nơi đây.

Cô kể, bản thân là người độc lập khi còn ở Việt Nam. Vì thế, cô không cảm thấy quá nhớ nhà, dễ bắt nhịp được cuộc sống tha phương, và không dễ dàng bị khuất phục trước khó khăn. Cô nhớ mãi những giây phút được học trò ôm vào lòng. Đối với cô, hạnh phúc ngập tràn là khi nhìn thấy các em lớn dần. Có bé đã không dùng bỉm nữa, biết uống sữa bằng ly, hay tập đánh răng trước giờ ngủ trưa. Sau những vất vả ấy là những bức thư cảm ơn của phụ huynh cho thấy những nỗ lực và tâm huyết của cô đã được ghi nhận.

Thanh Thu

19 năm trước (năm 1997), tôi viết bài đăng trên mục Ý kiến nhà khoa học của báo Nhân dân. Được biết bài này được chọn là một trong 10 bài quan trọng trong ngày để ban thư ký tóm tắt cho Thủ tướng đọc. Ngoài ra, chiều 17/7/1997, ngày báo phát hành, Vụ trưởng Vụ sau đai học Phạm Sĩ Tiến đã điện thoại cho tôi, lúc đó đang ở TP HCM, để cảm ơn. Ít lâu sau, ông cũng đã đề nghị tôi đến thuyết trình (ngày 6/3/2000) về đề tài này tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, nơi mà theo ông, đang rất dễ dãi trong việc cấp bằng tiến sĩ. Những phản ứng ban đầu của những vị có trách nhiệm của nhà nước như vậy rất tích cực, đáng phấn khởi. Ý kiến này viết cách đây đã 19 năm, nhưng rất tiếc sau đó tình hình ngày càng trầm trọng hơn.

VnExpress giới thiệu ý kiến của GS Trần Văn Thọ về vấn đề đào tạo tiến sĩ 19 năm trước:

tran-tro-ve-dao-tao-tien-si-cua-gs-tran-van-tho-19-nam-truoc

GS Trần Văn Thọ.

Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) của Đảng Cộng sản Việt Nam có phương châm xác định giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu. Sau đó đã thấy một số nỗ lực của chính quyền các cấp trong việc triển khai phương châm này. Những có gắng trong lĩnh vực đào tạo sau đại học cũng đáng ghi nhận. Tuy nhiên, việc đào tạo và cấp các văn bằng trên đại học, nhất là văn bằng tiến sĩ, cần được chuẩn bị chu đáo hơn để đảm báo chất lượng của văn bằng. Trong phạm chuyên môn của mình, ở đây tôi xin góp một số ý kiến trong lĩnh vực kinh tế học.

Trong phạm vi tôi được biết, hiện nay có khá nhiều cơ quan ở Hà Nội và TP HCM tổ chức các khóa đào tạo tiến sĩ kinh tế học. Riêng ở Hà Nội có ít nhất 10 cơ quan đang đào tạo nghiên cứu sinh, trong đó một số không nhỏ theo hình thức không học tập trung. Nhiều cơ quan không có điều kiện cung cấp các môn học cần thiết phải gửi nghiên cứu sinh sang học tập tại các nơi khác. Theo tính toán bước đầu, sau vài năm nữa, trung bình mỗi năm Việt Nam sẽ có ít nhất 100 tiến sĩ mới trong ngành kinh tế học.

Nếu chất lượng được bảo đảm tương đương với trình độ quốc tế thì đây là một chuyện đáng mừng. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều nghi vấn về vấn đề này. Ta đã có đủ điều kiện khách quan để đào tạo một số lượng lớn tiến sĩ mới như vậy chưa? Trước khi trở lại vấn đề Việt Nam, tôi xin giới thiệu chế độ đào tạo và cấp bằng tiến sĩ tại Mỹ (mà nhiều nước đã và đang tham khảo), và giới thiệu phương châm đào tạo tiến sĩ tại Thái Lan, một nước gần gũi với ta về nhiều phương diện.

Mỹ chú trọng kiểm tra chất lượng học tập và mở rộng cửa cho tất cả ai đạt tiêu chuẩn khách quan về trình độ, không câu nệ số tuổi hoặc số năm học của nghiên cứu sinh. Sau khi thi đỗ vào khóa trình tiến sĩ, nghiên cứu sinh phải học các môn học cơ bản có trình độ cao cấp và ít nhất hai môn trong số chuyên ngành. Cường độ học tập rất lớn, mỗi môn học hai buổi mỗi tuần với lượng sách tham khảo khá lớn và thường có thi kiểm tra hàng tuần hoặc hàng tháng. Có thể nói nghiên cứu sinh phải miệt mài học tập ngày đêm mới theo kịp.

Sau thời gian học tập này và lấy đủ các tín chỉ cần thiết, nghiên cứu sinh sẽ thi kỳ thi tổng hợp (comprehensive exam) về kinh tế học. Nếu thi đỗ, nghiên cứu sinh sẽ chuẩn bị đề cương luận án. Nếu đề cương được thông qua trong hội đồng khoa học của trường, nghiên cứu sinh trở thành ứng viên (candidate) tiến sĩ và bắt đầu thực hiện kế hoạch nghiên cứu, điều tra và viết luận án. Ngoài tính khoa học, logic tất nhiên phải có, một luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng.

Thứ nhất, là tính học thuật (academic) trong đó vẫn đề phải được triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả lý luận, kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Thứ hai, là tính độc sáng (originality), luận văn phải đặt ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới.

Về trường hợp của Thái Lan, ở đây chủ yếu giới thiệu phương châm đào tạo tiến sĩ kinh tế học của trường Thammasat, một trong những đại học có uy tín nhất về khoa học xã hội và nhân văn của nước này và là đại học mở khoa kinh tế học đầu tiên tại Thái Lan. Đại học Thammasat ra đời năm 1934 và mở khoa kinh tế vào năm 1949. Hiện nay (1997) khoa có 80 cán bộ giảng dạy, trong đó 50 người có bằng tiến sĩ kinh tế học. Tất cả 50 người đều được đào tạo tại nước ngoài, chủ yếu là Mỹ.

Với một lực lượng giáo viên hùng hậu như vậy, nhưng Thammasat vẫn đang rất thận trọng trong việc đào tạo bậc tiến sĩ. Ngay cả bậc thạc sĩ, mỗi năm chỉ nhận tối đa 50 nghiên cứu sinh trong chương trình dạy bằng tiếng Thái, nghĩa là mỗi cán bộ có bằng tiến sĩ trung bình mỗi năm chỉ hướng dẫn làm luận án thạc sĩ cho một nghiên cứu sinh.

Ngoài ra họ có chương trình đào tạo thạc sĩ dạy bằng tiếng Anh, có sự tham gia giảng dạy cả các giáo sư thỉnh giảng người nước ngoài và mỗi năm chỉ nhận độ 15 nghiên cứu sinh. Về việc đào tạo tiến sĩ kinh tế học, Thammasat gửi các giáo viên trẻ sang học tại các nước Âu, Mỹ, phần lớn theo các chương trình giúp đỡ của các quỹ tài trợ lớn như Rockfeller Foundation.

Ở trong nước, trước đây họ có làm thử (chương trình hệ tiếng Thái), mỗi năm nhận vài nghiên cứu sinh đã có bằng thạc sĩ kinh tế, nhưng sau thấy khó bảo đảm chất lượng của văn bằng tiến sĩ, học phải bãi bỏ chương trình này vào năm 1993, và thay vào đó bằng chương trình hệ tiếng Anh, có sự tham gia đào tạo của giáo sư nước ngoài. Tuy nhiên, số người được nhận vào chương trình mới này cũng rất ít, hiện nay chưa tới 10 nghiên cứu sinh theo học.

Trở lại vấn đề của Việt Nam, tôi chia sẻ với quan tâm và nỗ lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các lãnh đạo khoa học Việt Nam muốn nhanh chóng có một đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, ai cũng đồng ý rằng phải bảo đảm chất lượng của việc đào tạo. Các văn bằng đào tạo tại Việt Nam ngay từ đầu phải làm cho thế giới thừa nhận là tương đương với trình độ quốc tế.

Nhưng, hiện nay ta đã có thể đào tạo mỗi năm cả trăm tiến sĩ kinh tế học với chất lượng tương đương với thế giới chưa? Cơ sở đào tạo và cơ chế về kiểm tra chất lượng đã hoàn chỉnh chưa? Số người có năng lực hướng dẫn đã đủ nhiều chưa? Đây là những vấn đề cần đặt ra. Đó là chưa nói đến một thực tế rất nhiều khách quan là tư liệu nghiên cứu và thông tin về những công trình nghiên cứu mới trên thế giới còn quá ít tại Việt Nam. Thông thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, là điều kiện không thể thiếu của một nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ, nhưng dù có đủ điều kiện này, nghiên cứu sinh cũng không thể theo kịp những nghiên cứu mới trong môi trường thiếu tư liệu và thông tin như hiện nay.

Trong 9 tháng làm việc tại Hà Nội (từ tháng 9/1996 đến tháng 5/1997), tôi có dự 8 buổi bảo vệ luận án phó tiến sĩ tại bốn cơ quan khác nhau. Từ những phân tích ở trên, tôi thấy rằng cơ chế tổ chức bảo vệ luận án tiến sĩ cũng như chất lượng của luận án tiến sĩ phải rất khác xa, khác về chất, so với những gì liên quan đến phó tiến sĩ. Trong tình hình hiện nay, để đào tạo nhiều tiến sĩ kinh tế học có chất lượng cao cho Việt Nam, tôi có đề nghị như sau:

Thứ nhất, các viện và các trường đại học đang có chương trình đào tạo tiến sĩ kinh tế cần thận trọng trong việc bắt đầu cho nghiên cứu sinh bảo vệ. Các tiêu chuẩn khách quan về trình độ học vấn của nghiên cứu sinh và chất lượng của luận án (như đã nói ở trên) đã được đảm bảo chưa? Chế độ bảo vệ đã thật sự nghiêm minh và khách quan chưa? Các cơ quan hữu quan và các nhà khoa học cần trao đổi ý kiến trước khi có quyết định về việc cấp văn bằng tiến sĩ tại Việt Nam.

Trước mắt, nên lập một hội đồng chung cho cả nước, quy tụ những nhà kinh tế có uy tín nhất của ta. Hội đồng có trách nhiệm đưa ra các biện pháp tổ chức kiểm tra trình độ của nghiên cứu sinh và mỗi năm tổ chức cho một số ít nghiên cứu sinh bảo vệ. Mặt khác, tích cực gửi các nghiên cứu sinh ra nước ngoài bảo vệ theo các chương trình hợp tác quốc tế mà viện hoặc trường đại học xây dựng được hoặc cho nghiên cứu sinh dự thi học bổng du học trong các chương trình sẽ nói ở điểm hai.

Thứ hai, trong thời gian độ 10 năm trước mắt, chủ yếu gửi nghiên cứu sinh sang các nước tiên tiến học và bảo vệ luận án tiến sĩ. Kết hợp ngân sách Nhà nước với các chương trình tài trợ của nước ngoài và các khoản viện trợ của các nước, mỗi năm có thể có một số khá lớn các nghiên cứu sinh được gửi đi.

Thứ ba, độ 10 năm sau, khi hàng trăm tiến sĩ kinh tế học từ nước ngoài lần lượt về (kết quả của các chương trình vừa nói), cùng với những nhà nghiên cứu thật sự giỏi đã có, ta có thể bắt đầu xây dựng khóa trình đào tạo tiến sĩ tại nhiều cơ quan trong nước.

Viết bài này, tôi không có mong muốn gì hơn là góp một ý kiến nhỏ trong việc làm cho Việt Nam ta có được đội ngũ khoa học kinh tế thật sự mạnh. Trong chín tháng giảng dạy ở khoa kinh tế của Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) vừa qua, tôi rất vui mừng thấy sự thông minh và ham học của giới trẻ nước ta. Nếu có cơ chế đúng đắn và môi trường thuận lợi, nhiều em trong số đó thừa sức trở thành những nhà kinh tế giỏi của Việt Nam trong tương lai.

GS Trần Văn Thọ
Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản

Thứ hai, 2/5/2016 | 04:00 GMT+7

Thứ hai, 2/5/2016 | 04:00 GMT+7

Tôm hùm là "lobster" còn tôm thông thường nói chung là "shrimp".

goi-ten-hai-san-bang-tieng-anh
Từ vựng Phiên âm Bản dịch
crab  /kræb/ con cua
mussel /ˈmʌs.əl/ con trai
squid (số nhiều squid) /skwɪd/ mực ống
cuttlefish /ˈkʌt̬.əl.fɪʃ/  mực nang
shrimp /ʃrɪmp/ tôm
fish  /fɪʃ/ 
horn snail /hɔːrn/ ốc sừng
octopus  /ˈɑːk.tə.pəs/ bạch tuộc
mantis shrimp  /ˈmæn.t̬ɪs/ /ʃrɪmp/ tôm tít, tôm bọ ngựa
lobster /ˈlɑːb.stɚ/ tôm hùm
oyster /ˈɔɪ.stɚ/ con hàu
cockle /ˈkɒk.əl/  con sò
scallop /ˈskɑː.ləp/ con điệp

Y Vân (theo Easy Pace Learning)

'; var parentDom = $(this).parent().get(0).tagName; var tableDom = $(this).parents('table'); if(parentDom == 'TD' || parentDom == 'td') { tableDom.before(vneVideo).remove(); } }); Parser.SITE_URL = base_url; Parser.URL = js_url; Parser.FLASH_URL = flash_url; Parser.SITE_ID = site_id; Parser.AUTO_PLAY = 1; Parser.parseAll(); } if (typeof(common.parserAdsFullScreen) != 'undefined') { common.parserAdsFullScreen(); } if (typeof(common.resizeImageDetail) != 'undefined') { common.resizeImageDetail(); $(window).resize(function() { common.delayFireOnce(1000).done(function() { common.resizeImageDetail(); }); }); }

Đề bài:

Nhân dịp lễ 30/4-1/5 nhóm bạn Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ lên kế hoạch đi dã ngoại ở Cần Giờ.

Dần được Sửu phân công đi mua nước uống. Cậu ra khu cửa hàng thực phẩm thì thấy cả hai cửa hàng A và B đều bán chai nước 1,5 lít với giá 10.000/chai.

Cửa hàng A có chương trình khuyến mãi “Mua 5 tặng 1”, tức là mua 5 chai sẽ được tặng 1 chai miễn phí.

Cửa hàng B thì lại giảm giá 15% cho những khách hàng mua 4 chai trở lên.

Hỏi Dần cần ít nhất bao nhiêu tiền để mua được 14 chai nước 1,5 lít.

Giải:

Nếu mua tất cả 14 chai ở cửa hàng A thì ta cần mua 12 chai và được tặng 2 chai, sẽ tốn 120.000.

Nếu mua tất cả 14 chai ở cửa hàng B, ta sẽ được giảm giá 15% và phải trả 14 x 8.500 = 119.000.

Tuy nhiên, nếu ta mua 5 chai ở cửa hàng A, được tặng thêm 1 chai và mua 8 chai ở cửa hàng B thì số tiền phải trả sẽ là 50.000 + 8 x 8.500 = 118.000.

Có thể chứng minh được rằng không thể làm tốt hơn được nữa.

Các con số chênh lệch trong bài toán này thực tế là quá nhỏ để phải cố gắng và rắc rối như thế. Tuy nhiên, khi làm việc với những con số lớn, thì những chi tiết nhỏ như thế có thể đem đến những khoản tiết kiệm khổng lồ.

TS Trần Nam Dũng
ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia TP HCM

Tin nổi bật

Đối tác: